Hồ Tiêu Việt Nam

Hồ Tiêu Việt Nam

Hồ tiêu - Cay nồng hương vị Việt

Cây Hồ tiêu (Piper nigrum) được trồng ở Việt Nam từ thế kỷ 17 nhưng sản xuất hồ tiêu chỉ thực sự phát triển mạnh từ sau năm 1997 khi giá hồ tiêu trên thị trường tăng nhanh. Hồ tiêu Việt Nam được biết đến như là một nhà sản xuất và xuất khẩu số 1 thế giới, là một ngành hàng uy tín và chất lượng. Hơn thế nữa, Hồ tiêu Việt Nam còn là một thị trường đầy tiềm năng và triển vọng.

 Hồ tiêu - Cay nồng hương vị Việt

Ở Việt Nam, cây hồ tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI, nhưng đến thế kỷ XVII mới được đưa vào trồng. Đến cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu được trồng với diện tích tương đối khá ở Phú Quốc, Hòn Chồng và Hà Tiên (Kiên Giang), chủ yếu do người Hoa gốc ở đảo Hải Nam theo Mạc Cửu di cư vào Hà Tiên. Cũng trong khoảng thời gian này và đầu thế kỷ XX, cây hồ tiêu theo chân các chủ đồn điền người Pháp phát triển tới Bình Long, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Trị và Quảng Nam.

Sự phát triển ngoạn mục của hồ tiêu bắt đầu từ những năm 1983-1990 khi giá Hồ tiêu trên thị trường thế giới tăng cao. Diện tích canh tác của Việt Nam đã liên tục tăng lên và đạt gần 9.200 ha từ 400 ha vào những năm 1970. Với tốc độ tăng bình quân 27,29%/năm kể từ năm 1996, diện tích canh tác của Việt Nam đã vượt mức 50.000 ha vào năm 2004. Trong hơn 5 năm trở lại đây từ cuối 2008 đến nay khi giá tiêu tăng gấp đôi các năm trước và đến năm 2011 gía tiêu đã đạt mức kỷ lục 5.500- 5.800 USD/ tấn đối với tiêu đen và 8.000- 8.500 USD/tấn tiêu trắng đã gia tăng diện tích trồng tiêu lên nhanh chóng. Tính đến cuối năm 2013 diện tích trồng tiêu của Việt Nam đã đạt gần 60.000 ha.

Song song với sự phát triển nhanh chóng của diện tích và sản lượng, từ 1998 xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam cũng tăng nhanh với tốc độ 15-20% bình quân mỗi năm. Năm 2001, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới với tổng lượng xuất khẩu đạt 56.506 tấn chiếm 28% tổng xuất khẩu của thế giới. Cũng từ đây, Việt Nam liên tục là nước đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu với sản lượng hồ tiêu. Từ 2009 đến năm 2013 xuất khẩu đạt bình quân từ 120.000 -125.000 tấn mỗi năm. Theo - Tổng cục Hải quan Việt Nam "8 tháng đầu năm 2023 Việt Nam xuất khẩu được 188.059 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 615,5 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước xuất khẩu tăng 17,0% về lượng nhưng giảm 13,8% về giá trị."

Sở dĩ Hồ tiêu Việt Nam có thể phát triển một cách rực rỡ như vậy là do Việt Nam hội tụ tất cả các điều kiện thuận lợi về tự nhiên, về con người, về ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và chế biến. Thiên nhiên ưu đãi với đất bazan màu mỡ, khí hậu cận nhiệt đới, độ ẩm cao, lượng mưa nhiều. Nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó, ham học hỏi. Chính phủ Việt Nam và các nhà khoa học sẵn sàng hỗ trợ trong đầu tư canh tác và ứng dụng khoa học kỹ thuật. Các nhà chế biến và xuất khẩu luôn chủ động mở rộng thị trường, đầu tư nhà máy chế biến hiện đại, đa dạng hoá sản phẩm. Bên cạnh đó có Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam được thành lập tháng 12/2001, là đơn vị phi lợi nhuận luôn hoạt động tích cực và hiệu quả vì quyền lợi, vì sự phát triển của ngành Hồ tiêu Việt Nam.

Việt Nam tham gia vào cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) vào năm 2005, hiệp hội Hồ tiêu Việt nam được Bộ NN-PTNT giao trực tiếp tham gia các hoạt động của IPC, cùng chia xẻ thông tin ngành hàng về thị trường giá cả, về áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng tiêu theo phương pháp hữu cơ bền vững (GAP), về tiêu chuẩn chất lượng Năm 2022, diện tích hồ tiêu toàn cầu là 745.000 ha vào năm 2021, tăng 42,8% so với năm 2020. Tại Việt Nam, diện tích hồ tiêu giảm đáng kể do giá giảm mạnh, ảnh hưởng của dịch bệnh và biến đổi khí hậu, từ 152.000 ha năm 2017 xuống còn 130.000 ha vào năm 2021 (Theo Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam thông tin tại Hội nghị quốc tế ngành hồ tiêu Việt Nam, 2022).

Hồ tiêu Việt Nam đã được xuất khẩu tới 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biệt là xuất khẩu các loại hàng chất lượng cao vào Mỹ và các nước EU ngày càng tăng. Thị trường xuất khẩu lớn nhất hồ tiêu hiện nây của Việt Nam là thị trường Trung Quốc, kế đến những thị trường lớn khác của hồ tiêu Việt Nam là Hoa Kỳ và châu Âu. Thị trường Trung Quốc chủ yếu nhập tiêu đen, đến 90% tiêu đen nguyên hạt, 10% còn lại là tiêu xay. Châu Âu và Hoa Kỳ là những nhà nhập khẩu hạt tiêu đen lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 1/3 lượng nhập khẩu toàn cầu.

Các giống hồ tiêu phổ biến tại Việt Nam

 Các giống hồ tiêu phổ biến tại Việt Nam

- Giống hồ tiêu Vĩnh Linh:  Giống hồ tiêu Vĩnh Linh có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Trị. 

- Giống Lada Belangtoeng: Đây là giống hồ tiêu Indonesia được nhập vào Việt Nam từ năm 1947. 

- Các giống tiêu sẻ: Các giống tiêu sẻ được trồng ở nhiều địa phương và được gọi dưới các tên sau: tiêu sẻ Lộc Ninh, sẻ đất đỏ Bà Rịa, sẻ Đắk Lắk. 

- Giống tiêu Ấn Độ: Có nguồn gốc từ Ấn Độ được trồng ở vùng đất đỏ Bà Rịa từ lâu, sau đó một số địa phương khác như Bình Phước, Đắk Lắk, Gia Lai đem về trồng.

- Giống Phú Quốc: Theo Phan Hữu Trinh, giống có nguồn gốc từ Campuchia. 

- Giống tiêu Trâu: Là giống địa phương ở nhiều vùng trồng hồ tiêu nước ta

Lợi ích của hồ tiêu

 Lợi ích của hồ tiêu

Giá trị dinh dưỡng và lợi ích đối với sức khỏe người tiêu dùng

Trong hạt tiêu có tinh dầu: 1,2-2%, piperin: 5-9%  và chanvixin: 2,2-6% (Piperin và chanvixin là hai loại ankaloit có vị cay hắc làm cho tiêu có vị cay), chất béo: 8%, tinh bột: 36%  và tro: 4%.

Hồ tiêu cũng rất giàu vitamin C, thậm chí còn nhiều hơn cả cà chua. Một nửa cốc hồ tiêu xanh, vàng hay đỏ sẽ cung cấp tới hơn 230% nhu cầu calxi 1 ngày/1 người.

Hạt tiêu đen là quả của cây hồ tiêu (Piper nigrum), không chỉ là gia vị mang lại sự hấp dẫn cho món ăn mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Hạt tiêu đen có chứa một chất hóa học là piperine, mang lại cho hạt tiêu hương vị cay nồng và là một chất chống oxy hóa mạnh. Chính hoạt chất này mang lại cho hạt tiêu đen có nhiều công dụng với sức khỏe như: Làm giảm đau, cải thiện hơi thở và giảm viêm...

+ Tác dụng trên hệ tiêu hóa: Giúp ăn ngon miệng hơn hạn chế tình trạng chán ăn, tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn. Kích thích dạ dày thúc đầy quá trình tiêu hóa giúp hạn chế tình trạng ăn không tiêu, chướng bụng, đầy hơi, khó chịu dạ dày.

+ Tác dụng kháng khuẩn: Hạt tiêu có tác dụng kháng khuẩn cao chống tình trạng nhiễm trùng ở đường hô hấp, các vấn đề về răng lợi như sâu răng, viêm lợi...

+ Trên hệ thần kinh: Giúp cải thiện tâm trạng, giảm tình trạng căng thẳng mệt mỏi do có chất làm cho cơ thể tăng sản xuất serotonin.

+ Giúp giảm cân duy trì vóc dáng: Các chất có trong vỏ hạt tiêu giúp cơ thể loại bỏ lượng calo dư thừa, tăng bài tiết mồ hôi và nước dư thừa thông qua đường tiết niệu. Do đó, nếu sử dụng một ít vỏ ngoài của hạt tiêu trước khi bắt đầu tập luyện thể thao sẽ làm tăng hiệu quả loại bỏ mỡ dư thừa.

+ Theo y học cổ truyền thì hạt tiêu có vị cay, tình đại ôn, có tác dụng trừ hàn, kháng khuẩn, giảm đau, trừ đàm. Cho nên được sử dụng để điều trị các chứng đau bụng do lạnh, tiêu chảy, tay chân lạnh, nôn ói, ho do lạnh...

Giá trị kinh tế, văn hóa

- Hồ tiêu là cây trồng mang lại giá trị kinh tế, là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của nước ta, phát triển đúng hướng, bền vững cây hồ tiêu có ý nghĩa kinh tế lớn, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước nói chung, kinh tế của vùng, địa phương nói riêng cũng như đóng góp vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho bà con nông dân

- Hạt tiêu không chỉ là loại gia vị dùng trong chế biến thực phẩm từ lâu đời, là loại quả ăn trực tiếp (tiêu xanh), mà còn dùng để tẩm ướp, chế biến món ăn.

Các sản phẩm từ hồ tiêu

 Các sản phẩm từ hồ tiêu

Các sản phẩm như:

+ Bột tiêu đen

+ Bột tiêu xanh

+ Bột tiêu xanh

+ Muối tiêu lá chanh

+ Tiêu sọ (tiêu trắng)

+ Quả tiêu xanh

Vùng trồng và năng lực sản xuất hồ tiêu tại Việt Nam

Hồ tiêu được trồng từ Nghệ An trở vào phía Nam, tổng số 18 tỉnh có diện tích trồng hồ tiêu trên 100 ha. Hồ tiêu còn được trồng rải rác ở một số tỉnh khác với tổng diện tích khoảng 650 ha. Trong số các vùng trồng nhiều hồ tiêu, hai vùng có diện tích hồ tiêu tăng nhanh nhất là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.Ở Đông Nam Bộ, chỉ riêng hai tỉnh Bình Phước và Bà Rịa-Vũng Tàu, tổng diện tích hồ tiêu đạt khoảng 21.000 ha, ba tỉnh Tây Nguyên có diện tích hồ tiêu lớn là Đăk Lăk, Gia Lai và Đăk Nông, tỉnh có diện tích hồ tiêu lớn ở Bắc Trung Bộ là Quảng Trị và ở Duyên Hải Nam Trung Bộ là Bình Thuận.

 Vùng trồng và năng lực sản xuất hồ tiêu tại Việt Nam

2.1 Vùng hồ tiêu Bình Phước

Trong năm 2003, diện tích hồ tiêu của tỉnh đạt khoảng 14.195 ha, trong đó diện tích thu hoạch 8.350 ha, sản lượng đạt 19.010 tấn. Đến năm 2004, diện tích hồ tiêu giảm 4,4% (13.571 ha), nguyên nhân là do giá hồ tiêu ở mức thấp trong các năm gần đây và giá vật tư và công lao động tăng cao, ngoài ra sâu bệnh hại cũng là một nguyên nhân gây ra việc giảm diện tích hồ tiêu của tỉnh. Tuy tổng diện tích có giảm nhưng diện tích thu hoạch hồ tiêu tăng 19,6% (10.389ha) trong năm 2004 do các vườn tiêu mới trồng trong khoảng thời gian 1997-2002 đã cho thu hoạch, sản lượng tăng 23,7% (24.933 tấn) so với năm 2003.

Ở Bình Phước diện tích trồng hồ tiêu tập trung chủ yếu ở các huyện Lộc Ninh (3.758 ha), Bình Long (3.519 ha) và Bù Đốp (1.149 ha), các huyện còn lại có trồng hồ tiêu nhưng diện tích không đáng kể (Cục Thống Kê Bình Phước, 2005). Diện tích trồng hồ tiêu trung bình/hộ khoảng 0,5-1,0 ha tuy nhiên có rất nhiều hộ có diện tích trồng hồ tiêu đạt 2-3 ha và cá biệt cũng có hộ lên đến vài chục hec-ta.

2.2 Vùng tiêu Bà Rịa-Vũng Tàu

Hầu hết các huyện trong tỉnh đều có trồng hồ tiêu (riêng huyện Côn Đảo diện tích không đáng kể). Tuy nhiên, diện tích hồ tiêu tập trung chủ yếu ở một số huyện như Châu Đức (5.330,5 ha), Xuyên Mộc (1.244,7 ha), Tân Thành (366,5 ha), và thị xã Bà Rịa (263,5 ha). Đây là những địa phương có diện tích đất đỏ bazan nhiều, thích hợp cho cây hồ tiêu phát triển. Các huyện thị còn lại có diện tích hồ tiêu không đáng kể. Ở Bà Rịa-Vũng Tàu sự chênh lệch về diện tích giữa các hộ, các vùng cũng rất lớn, diện tích bình quân/hộ khoảng 0,4 ha. Tổng sản lượng hồ tiêu toàn tỉnh năm 2003 đạt 9.911 tấn, chủ yếu từ các vùng trồng hồ tiêu có diện tích lớn.

Diện tích trồng mới hồ tiêu gia tăng nhiều nhất ở huyện Châu Đức (1.192,3 ha), các địa phương khác diện tích trồng mới tăng không đáng kể. Diện tích hồ tiêu bị hủy bỏ chủ yếu ở Xuyên Mộc (188 ha) do đây là khu vực nhiễm bệnh chết nhanh do Phytophthora gây chết hàng loạt trong một vài năm trước đây. Một số vườn bị bệnh nặng không khắc phục được buộc phải hủy bỏ và chuyển đổi sang trồng điều.

Từ năm 2001 đến nay, diện tích hồ tiêu có xu hướng giảm, từ 8.413 ha xuống 7.246 ha vào năm 2003. Lý do diện tích giảm là giá hồ tiêu ở mức thấp, không kích thích nông dân trồng mới, và một số diện tích được chuyển sang trồng các cây khác.

2.3 Vùng Tây Nguyên

Điều kiện tự nhiên

Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa bình quân hàng năm là 1800 mm chủ yếu phân bố trong các tháng mùa mưa. Mùa khô kéo dài 5-6 tháng, do vậy chủ động nước tưới là điều rất cần thiết để mở rộng sản xuất nông nghiệp. Chế độ nhiệt và ẩm nhìn chung thích hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển và phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây hồ tiêu. Biên độ nhiệt ngày và đêm cao là điều kiện thuận lợi để tích lũy chất thơm cho một số loại nông sản phẩm.

Trên địa bàn Tây Nguyên đất có địa hình đồi dốc chiếm hơn 85%, bề mặt thoáng, ít bị chia cắt, thuận tiện cho việc tổ chức, quản lý và sản xuất nông nghiệp cũng như kinh doanh. Các cây trồng chính ở Tây Nguyên chủ yếu là cao su, cà phê, hồ tiêu và điều. Ngoài ra còn có các loại cây ăn quả, bắp lai, đậu đỗ, lúa.
Tây Nguyên có năm nhóm đất chính:

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá macma kiềm và trung tính còn gọi là đất bazan, có tầng đất canh tác dày hơn 1m. Tầng A có màu nâu đỏ hoặc nâu thẫm, hàm lượng hữu cơ khá cao, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình. Loại đất này khá màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị cao.

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma acid (Fa), loại đất này phân bố trên các kiểu địa hình núi thấp, bình nguyên và đồi thấp. Tầng đất mặt dưới 50 cm, thường có lẫn đá sỏi. Hàm lượng hữu cơ khá, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình, đất chua.

- Ba nhóm đất còn lại là Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến hoặc đá biến chất, đất bồi dốc tụ ven sông hoặc chân núi và đất ngập nước chiếm tỷ lệ thấp.
Phần lớn diện tích hồ tiêu được trồng trên đất bazan bằng phẳng hoặc dốc nhẹ. Đây là loại đất lý tưởng cho các cây công nghiệp do có tầng canh tác dày, thoát nước tốt và khá màu mỡ.

Điều kiện kinh tế xã hội

Khu vực Tây Nguyên có tổng diện tích 54.473 km2 với dân số 4.674.200 người và mật độ dân số khoảng 86 người/km2. Dân số ở khu vực nông thôn 3.405.800 người.
Theo số liệu thống kê năm 2001, dân số Chư Sê là 112.500 người trong đó dân tộc Kinh chiếm 46,5% còn lại là các dân tộc Ja Rai, Ba Na và các dân tộc khác. Đồng bào Kinh sống tập trung ở thị trấn và các tụ điểm dân cư dọc theo quốc lộ 14, quốc lộ 25. Một bộ phận lớn của dân tộc Kinh là các hộ đi xây dựng kinh tế mới theo kế hoạch và dân di cư tự do từ phía Bắc vào. Phần lớn lao động làm nông nghiệp, chủ yếu là trồng cà phê, hồ tiêu, làm công nhân trong các nông trường cao su, chăn nuôi và kết hợp buôn bán. Đời sống kinh tế khá cao. Các buôn làng người dân tộc thường ở xa đường giao thông, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, trình độ học vấn thấp, thường sinh hoạt theo phong tục tập quán riêng của từng cộng đồng. Phần lớn các hộ đồng bào dân tộc trồng cây ngắn ngày để tự túc lương thực và thực phẩm, như lúa rẫy, bắp, sắn, bầu bí và rau đậu các loại.

Nông lâm nghiệp là hướng kinh tế chủ đạo của huyện Chư Sê, trong đó trồng trọt là lĩnh vực quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn. Chư Sê có địa hình bằng phẳng thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh, có quốc lộ 14 là huyết mạch giao thông và quốc lộ 25 chạy qua thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa với các tỉnh Duyên Hải miền Trung và các tỉnh phía Nam. Sản phẩm hàng hóa chủ yếu của Chư Sê là cà-phê, hồ tiêu, cao su, thực phẩm và hoa quả. Việc vận chuyển hàng hóa rất thuận tiện.

Đời sống nhân dân Chư Sê ngày càng được cải thiện, thu nhập đầu người bình quân tăng rõ rệt, trong giai đoạn 1999-2000 bình quân tăng 20,1 USD/năm. Thực tế cho thấy ở một bộ phận lớn dân cư đời sống trở nên khá giả, nhiều hộ giàu có vốn sản xuất hàng tỷ đồng. Tuy vậy, một bộ phận khác vẫn ở trong tình trạng nghèo đói, nhất là các hộ người dân tộc có thu nhập bình quân đầu người thấp. Huyện cũng đã có những chính sách hợp lý để thực hiện xóa đói giảm nghèo, đặc biệt chú ý nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc, tăng cường hạ tầng cơ sở cho các xã khó khăn.

Sản xuất hồ tiêu

Hồ tiêu là cây trồng tạo công ăn việc làm, đem lại nguồn thu nhập chủ lực cho hàng vạn hộ nông dân trên địa bàn huyện Chư Sê. Trong các tỉnh Tây Nguyên, huyện Chư Sê của tỉnh Gia Lai là một trong những huyện có diện tích hồ tiêu lớn nhất vùng. Theo số liệu niên giám thống kê năm 2003, huyện Chư Sê có 1.825 ha hồ tiêu với tổng sản lượng 5.020 tấn tiêu đen. Tuy nhiên, diện tích thực tế cao hơn nhiều. Theo ước tính của phòng Kinh tế huyện, số liệu không chính thức về diện tích hồ tiêu lên đến 3.000ha, sản lượng niên vụ 2005 vừa qua ước tính lên đến 10.000 tấn tiêu đen.

Hồ tiêu được sản xuất dưới hình thức sản xuất nông hộ với quy mô từ vài trăm trụ đến vài ngàn trụ, trung bình khoảng 1.000-2.000 trụ, cá biệt có hộ trên 10.000 trụ. Tuy vậy số này rất ít và chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng số hộ trồng tiêu của huyện. Do chi phí đầu tư ban đầu rất lớn nên hầu hết nông hộ đều trồng mở rộng diện tích dần qua các năm tiếp theo. Thường trong một vườn tiêu có từ 2-4 độ tuổi. Nhìn chung các vườn tiêu ở Chư Sê còn khá trẻ. Các vườn tiêu trẻ dưới năm tuổi ở Chư Sê chiếm tỷ lệ cao ở một số xã như Nhơn Hòa, IaBlang và Thị Trấn Chư Sê. Chứng tỏ diện tích tiêu được mở rộng khá nhanh trong các năm vừa qua. Các vườn tiêu trẻ sẽ đạt năng suất cao trong các năm kế tiếp và đây sẽ là nguồn cung cấp hồ tiêu dồi dào.

2.4 Vùng tiêu Quảng Trị

Từ tháng 9 đến tháng 11, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên thường có mưa phùn kéo dài sang tận tháng 2 năm sau. Mùa mưa ở đây thường chịu ảnh hưởng của các trận bão lớn ven biển Miền Trung, nhiệt độ không khí giảm làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đó là đặc trưng khí hậu của Quảng Trị ở các huyện đồng bằng. Riêng huyện Hướng Hoá điều kiện khí hậu có phần ôn hòa hơn vì nó chịu chi phối bởi khí hậu của vùng Tây Trường Sơn. Ở đây mùa mưa đến sớm hơn, mưa rải đều từ cuối tháng 4 đến tháng 11, nhiệt độ không khí trung bình vùng này dao động từ 18,2-25,60C, nhiệt độ cực đại chỉ 35,70C. Tuy nhiên, thời gian có nhiệt độ cao như vậy không kéo dài như một số vùng trồng tiêu khác của Quảng Trị như Cam Lộ, Vĩnh Linh hay Gio Linh, nhiệt độ tối thấp không dưới 120C vào một số ngày của tháng 1, 2, 3 và không kéo dài nên thời tiết khí hậu vùng này khá thuận lợi cho một số cây công nghiệp như cà-phê, hồ tiêu, cao su.

Đất trồng hồ tiêu ở Quảng Trị chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng hoặc nâu vàng phát triển trên đá bazan. Một số xã ở huyện Vĩnh Linh, Cam Lộ, Gio Linh trồng hồ tiêu trên đất sa phiến thạch và đất dốc tụ. Đất trồng hồ tiêu của các huyện chủ yếu tập trung ở vùng đồi, do vậy huyện nào có diện tích đất đồi nhiều thì huyện đó có tỷ lệ diện tích trồng hồ tiêu so với diện tích đất tự nhiên cao hơn các huyện khác.

Diện tích và tỷ lệ diện tích trồng hồ tiêu so với đất tự nhiên chỉ dao động từ 2,56-14,0%. Huyện có diện tích lớn nhất là huyện Cam Lộ (922 ha) chiếm 14% đất tự nhiên. Riêng huyện Hướng Hoá mặc dù diện tích đồi núi nhiều, đất tự nhiên và đất nông nghiệp lớn hơn huyện Cam Lộ song diện tích trồng hồ tiêu không lớn vì phần lớn ở đây là đất rừng, đất nông nghiệp so với đất tự nhiên chỉ chiếm 10%, mặt khác tập quán trồng hồ tiêu chưa trở thành truyền thống như các nơi khác, ngoài ra tỷ lệ đồng bào thiểu số khá đông và họ chưa quen với việc trồng trọt các cây công nghiệp lâu năm. Diện tích trồng hồ tiêu ở vùng này tập trung chủ yếu vào các gia đình người Kinh đi xây dựng kinh tế mới.

Điều kiện kinh tế xã hội

Quảng Trị là một trong những tỉnh nằm ở vùng Duyên Hải miền Trung của Việt Nam với diện tích 4.745km2, dân số khoảng 616.600 người và mật độ dân số 130 người/km2. Theo niên giám thống kê năm 2004 thì dân số ở vùng nông thôn là 466.000 người, đây là một trong những lợi thế để đáp ứng cho nhu cầu lao động của tỉnh nói chung cũng như phát triển nghành nông nghiệp nói riêng.
Sản xuất nông nghiệp

Quảng Trị có tổng diện tích đất tự nhiên 474.600 ha bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất ở. Trong bốn nhóm đất kể trên thì đất dùng cho lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 33,7% (160.300ha) kế đến là đất dùng cho sản xuất nông nghiệp khoảng 73.800ha, chiếm 15,5% diện tích đất toàn tỉnh. Tuy diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao nhưng diện tích bình quân trên nông hộ lại thấp, khoảng 0,57 ha/hộ. Đối với người nông dân Quảng Trị thì ngoài tập quán trồng các loại cây ngắn ngày như lúa, bắp, khoai, sắn thì các cây trồng lâu năm cũng được người dân đầu tư trồng rất nhiều như cà phê, chè, cao su, hồ tiêu, dâu tằm và thuốc lá.

Sản xuất hồ tiêu

Diện tích cây hồ tiêu của Quảng Trị năm 2001 là 2.025 ha, hàng năm có bổ sung thêm diện tích trồng mới, tuy nhiên việc tăng diện tích của các vùng không lớn, chỉ khoảng 100-200 ha/năm. Diện tích tăng thêm chủ yếu tập trung vào các huyện trọng điểm như Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ, các huyện khác diện tích mở rộng hàng năm không đáng kể. Quy mô diện tích năm 2004 là 2.484 ha và gần như ổn định ở con số này. Trong các huyện có trồng tiêu ở Quảng Trị thì huyện Cam Lộ là một trong những huyện có diện tích trồng tiêu lớn nhất, chiếm 14,1% so với đất nông nghiệp. Diện tích trồng hồ tiêu bình quân ở Quảng Trị khoảng 0,3 ha/hộ. Sự chênh lệch về diện tích giữa các hộ khá lớn. Diện tích hồ tiêu vào giai đoạn cho thu hoạch dao động khoảng 1.000-1.500 ha và tập trung chủ yếu vào các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ. Các huyện khác một mặt do quỹ đất giành cho cây hồ tiêu bị hạn chế, mặt khác những năm gần đây giá tiêu hạt trên thị trường ở mức thấp nên hồ tiêu cũng chỉ phát triển ở mức vừa phải.

Năng suất hồ tiêu Quảng Trị thấp hơn so với năng suất ở các vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, chỉ đạt 10,3 tạ/ha vào năm 2000. Những năm gần đây năng suất có xu hướng tăng khá rõ, đạt 13,4-13,8 tạ/ha trong hai năm 2003 và 2004. Do diện tích hồ tiêu tăng không đáng kể trong những năm gần đây nên nông dân trồng hồ tiêu có cơ hội đầu tư thâm canh cao hơn trên vườn hồ tiêu sẵn có của mình. Mặc dù diện tích hồ tiêu tăng không đáng kể nhưng nhờ năng suất tăng khá nên sản lượng hồ tiêu năm 2004 tăng gấp 2 lần so với năm 2000 và 2001.

2.5 Vùng tiêu Phú Quốc

Điều kiện tự nhiên

- Lượng mưa trung bình hàng năm 2.950 mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, với 81,5% tổng lượng mưa cả năm.

- Lượng bốc hơi (đo theo Piche) hàng năm 1.165mm, cao nhất vào tháng 12 và thấp nhất vào tháng 10.

- Độ ẩm trung bình hàng năm 82%, độ ẩm cao dần từ tháng 5 và bắt đầu giảm từ tháng 10, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9.

- Tổng số giờ nắng trong năm 2.302 giờ, tập trung vào tháng 1 đến tháng 4, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 3.

- Nhiệt độ trung bình hàng năm 27,3oC, nhiệt độ cao nhất 34,5oC vào tháng 3 và tháng 4, nhiệt độ thấp nhất 19,1oC vào tháng 1.

Huyện Phú Quốc là quần đảo nằm ở cực Tây Nam vùng biển phía Tây của nước ta, có tọa độ địa lý 103,8-104,1 độ kinh Đông, 10-10,4 độ vĩ Bắc. Đảo có dạng hình tam giác, rộng ở phía Bắc và hẹp dần ở phía Nam, chiều dài lớn nhất theo hướng Bắc Nam (49km), chiều rộng lớn nhất ở Bắc đảo (27km), chu vi đảo khoảng 150km.

Huyện đảo Phú Quốc có tổng diện tích đất tự nhiên 59.305 ha, trong đó 7.761 ha đất nông nghiệp. Đất trồng hồ tiêu ở Phú Quốc phần lớn được khai hoang từ đồi núi, bao gồm đất xám trên đá macma axít, đá cát, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất vàng nhạt trên đá cát. Đất Phú Quốc thuộc loại nghèo dinh dưỡng, cát chiếm tỷ lệ cao trong thành phần cơ giới, chất hữu cơ từ 1,0-1,4%, đất chua, pHKCl 5,1, hàm lượng Ntổng số 0,08-0,12, Ptổng số 0,03-0,04 và Ktổng số 0,02-0,09 (Phân Viện Qui hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam, 1999).

Điều kiện kinh tế xã hội

Trên địa bàn huyện có những chuyển biến tích cực trong nhiều ngành kinh tế. Tuy nhiên đối với hai ngành nông nghiệp và thủy sản là hai ngành thế mạnh của huyện đang nằm trong tình trạng đi xuống, nhất là ngành nông nghiệp. Với kết quả nhiều cuộc điều tra định kỳ và các cuộc điều tra khác phối hợp với thông tin thu thập từ các cơ quan, ban ngành đoàn thể, phòng Thống kê ước tính dự kiến GDP tăng 8,99% trong năm 2004, nhưng không đạt kế hoạch đề ra do nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý là ngành thủy sản, ngành kinh tế chủ lực giảm 3,61%, ngành nông lâm nghiệp giảm 5,8%.

Sản xuất hồ tiêu

Hồ tiêu là cây trồng chủ lực của huyện đảo, sản phẩm hồ tiêu Phú Quốc đã nổi tiếng trong và ngoài nước từ lâu. Cũng như các địa phương trồng hồ tiêu khác, ngành nông nghiệp huyện đang gặp nhiều khó khăn do giá tiêu hạt giảm liên tục và ở mức thấp trong mấy năm gần đây, buộc lòng nông dân phải bán đất để lấy tiền trả nợ ngân hàng và đảm bảo cuộc sống gia đình.

Ở Phú Quốc, hồ tiêu được trồng tập trung tại ba xã: Cửa Dương, Cửa Cạn và Dương Tơ. Năm 2001, diện tích hồ tiêu toàn huyện là 77 5ha, đạt sản lượng 1.690 tấn, đến năm 2004 diện tích giảm 245 ha chỉ còn 530 ha, với sản lượng 1.364 tấn (Phòng Thống kê huyện Phú Quốc, 2004). Theo kết quả sơ bộ tổng hợp từ cuộc điều tra cây hồ tiêu vừa qua, diện tích hồ tiêu giảm mạnh nhất ở xã Cửa Cạn với 90,1ha, xã Cửa Dương giảm 90ha và xã Dương Tơ giảm 48,6ha. Do diện tích giảm, chỉ khoảng 24ha hồ tiêu trồng mới kể từ năm 2003 chưa cho thu hoạch, phần lớn diện tích còn lại đã cho thu hoạch với năng suất bình quân khoảng 2,7 tấn/ha, thấp hơn năng suất bình quân trên 3,0 tấn/ha trong những năm 2001-2002, chủ yếu do mức đầu tư và chăm sóc giảm.

Sản xuất hồ tiêu tại Việt Nam

 Sản xuất hồ tiêu tại Việt Nam

Khí hậu và sinh thái

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho cây hồ tiêu từ 20 - 30 oC. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 40oC và thấp hơn 10oC đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng. 

+ Ánh sáng: Ánh sáng tán xạ nhẹ phù hợp với yêu cầu sinh lý về sinh trưởng và phát dục, ra hoa đậu quả của cây hồ tiêu và kéo dài tuổi thọ của vườn cây hơn.

+ Lượng mưa và ẩm độ: Cây hồ tiêu ưa thích điều kiện khí hậu nóng ẩm. Hồ tiêu cũng cần một giai đoạn hạn tương đối ngắn sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt. Cây hồ tiêu cần ẩm độ không khí cao từ 70 - 90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa. 

+ Gió: Cây hồ tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão đều không hợp với cây hồ tiêu. 

+ Đất đai: Cây tiêu thích hợp với điều kiện địa hình đất có độ dốc thoai thoải từ 5 - 100 vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước trong vườn tiêu. Ở Việt Nam cây tiêu đã được trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất đỏ bazan (vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ), Đất sét pha cát ((Hà Tiên, Phú Quốc), Đất phù sa (vùng đồng bằng sông Cửu Long) + Đất xám (miền Đông Nam Bộ)…

Quy trình kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh hại

+ Tiêu chuẩn cây giống: 

- Cây được ươm từ 4 - 5 tháng trong vườn ươm, có ít nhất 1 chồi mang 5 - 6 lá trở lên mới đem trồng.

- Cây không bị sâu bệnh và được huấn luyện với ánh sáng 70 - 80% từ 15 - 20 ngày trước khi đem trồng.

+ Liều lượng phân bón

Bảng 1. Định lượng phân bón hóa học cho hồ tiêu (g/trụ/năm)

+ Các loại sâu bệnh hại chính:

- Bệnh vàng lá (bệnh chết chậm)

- Bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora 

- Bệnh khảm lá và xoăn lá (Stunted disease)

- Bệnh thán thư (Colletotrichum Gloeosporioides): 

- Bệnh đen lá (Lasiodiplodia theobromae.)

- Bệnh đốm lá 

- Rệp sáp (Pseudococus citri):

- Sâu đục thân 

+ Đóng gói, xử lý KDTV xuất khẩu

Thu hoạch: Tiêu chuẩn độ chín khi thu hoạch để phục vụ chế biến theo yêu cầu

Các chỉ tiêu về lý hóa tính và vi sinh vật của tiêu đen đã được chế biến xuất khẩu được ghi lại ở các bảng sau

Bảng 2: Các chỉ tiêu vật lý của hạt tiêu đen

 

Bảng 2: Các chỉ tiêu hóa học của hạt tiêu đen

Bảng 2: Các chỉ tiêu vi sinh vật đối với hạt tiêu đen đã chế biến

Bảng 4: Các chỉ tiêu vật lý của hạt tiêu trắng

Bảng 5: Các chỉ tiêu hóa học của hạt tiêu trắng

* dầu bay hơi cần được xác định ngay sau khi nghiền

Các chỉ tiêu vi sinh vật của tiêu trắng tương tự tiêu đen đã chế biến

+ Các tiêu chuẩn chất lượng tiêu xuất khẩu hiện nay

- Tiêu chuẩn FAQ (Fair Acceptable Quality): 

Thường xuất khẩu các loại sau:

+ Tiêu đen FAQ 550g/lít: Dung trọng: 550g/lít; Độ ẩm:12,5%; Tap chất:0,5%; Không có sâu mọt, nấm mốc.

+ Tiêu đen FAQ 500g/lít: Dung trọng: 500g/lít; Độ ẩm:13%; Tap chất:1%; Không có sâu mọt, nấm mốc.

- Tiêu chuẩn ASTA (American Standards Trade Association)

+ Dung trọng: 570g/lít cho tiêu đen và 630g/lít cho tiêu trắng

+ Độ ẩm: ≤ 12,5%           + Chất thải động vật: ≤ 1mg/lb (454g)

+ Tạp chất: ≤ 1%             + Chất thải khác: ≤ 5mg/lb

+ Hạt nhẹ: ≤ 2%              + Sâu mọt: ≤ 2 con/lb

+ Hạt mốc: ≤ 1%             + Salmonella: Không có

+ Cỡ hạt trên sàng ф 5mm: 100% + Tiêu được làm sạch bằng hơi nước nóng

Ngoài ra một số các thị trường các nước Châu Âu và Trung Đông còn yêu cầu thêm chỉ tiêu an toàn thực phẩm rất cao, yêu cầu không có kim loại nặng như chì, Arsenic, Cadmium, không có vi khuẩn E-coli, chất phóng xạ v.v….

Hơn 95 % sản lượng tiêu của Việt Nam hiện nay được xuất khẩu theo tiêu chuẩn FAQ, có dung trọng từ 500-550g/lít, độ ẩm từ 13 -13,5% và tạp chất từ      0,5 -1%. Lượng xuất khẩu theo tiêu chuẩn ASTA chiếm tỷ lệ không đáng kể.

+ Chưa áp dụng biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật đối với các sản phẩm hồ tiêu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu